Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Đời thứ mười ba:

Ông NGUYỄN- ĐÌNH- TƯỚNG sinh năm Kỷ Tỵ ( 1929 ) . Ông sinh ra trong lúc cha mẹ khó khăn, con đông, từ nhỏ lao động phụ giúp cha mẹ và chăm các em, không được học nhiều, chỉ biết đọc biết viết. Năm 1949 ông kết duyên cùng bà HUỲNh- THỊ- LÊ người cùng làng.

Bà HUỲNH- THỊ- LÊ Sinh năm Kỷ Tỵ ( 1929 ) mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống nhờ sự bảo bọc của bà con, chị em bà cũng lần lượt qua đời chỉ còn lại một mình, đến tuổi trưởng thành bà được cô bác gả về làm vợ ông Nguyễn đình Tướng .

Hai ông bà tuy ít học, nhưng chịu khó bương chải, nên dù con đông lúc còn ở quê(xã Sơn Phúc quận Quế Sơn,Quảng Nam nay là xã Quế Lộc huyện Nông Sơn,Quảng Nam)
hai ông bà tiện tặn mua thêm ruộng và cho nuôi con ăn học. Năm 1965 quê nhà bị chiến tranh ông bà đưa năm con nhỏ xuống xã Xuyên Thu , quận Đức Dục lánh nạn. Cuối năm 1968, chiến sự nơi gia đình ông bà ở xảy ra ác liệt nên ông bà đưa gia đình vào Sài Gòn sinh sống, năm 1973 chính quyền đương thời tổ chức đưa dân miền Trung vào quận Đức Thạnh tỉnh Phước Tuy khẩn hoang lập ấp thành lập xã mới là Quảng Phước. ( nay là hai xã Nghĩa Thành và Suối Nghệ ) Năm 1973 ông bà xin nhập vào danh sách do hội thánh truyền giáo Cao Đài tổ chức để đi. Năm 1973 Ông ở lại Sài Gòn làm công nhân hảng Hàng Không Việt Nam nuôi hai con lớn ăn học, bà cùng bốn người con nhỏ về Quảng Phước nhận nhà đất của chính quyền cấp làm nông sinh sống. Năm 1975 ông và các con bgdọn về Quảng Phước ở hẳn tại tại lô đất thổ cư được cấp sinh sống và giử nguyên vẹn cho đến nay.

Ông bà sinh đăng sáu người con , bốn trai hai gái :

- Nguyễn đình Quân sinh ngày 15/ 8 năm Tân Mão ( 1951 )
- Nguyễn đình Hầu sinh ngày 02/ 3 năm Giáp Ngọ ( 1954 )
- Nguyễn thị Bá sinh ngày 06/ 12 năm Bính Thân ( 1956 )
- Nguyễn thị Tùng sinh ngày 10/ 12 năm Mậu Tuất ( 1958 )
- Nguyễn đình Cao sinh ngày 10/ 11 năm Tân Sửu ( 1961)
- Nguyễn đình xuân Lộc sinh ngày 12/ 8 năm Nhâm Tý ( 1972 )

Năm 2003 bà bị bệnh con cháu đưa lên nhà thương chợ rẫy chạy chửa, nhưng vì bệnh hiểm nghèo nhà thương bất lực, con cháu đưa về nhà chăm sóc. Bà mất vào 6 giờ sáng ngày 06 tháng 04 năm 2005 nhằm ngày 28 tháng 02 năm Ất dậu .An táng tại nghiả trang Cao Đài xã Nghiã Thàng huyện Châu Đức,Bà Riạ-Vũng tàu
Năm 2007 ông bị té nứt xương chậu kèm theo di chứng tai biến mạch máu nảo nên không đi đứng được. Các con đóng góp phụng dưỡng,ông mất vào lúc...giờ ngày... tháng..năm...nhằm ngày.. tháng... năm...Ông được an táng bên cạnh bà tại nghĩa trang Cao Đài xã Nghĩa Thành
Ông tính nóng nảy, gia trưởng nhưng chí thú làm ăn . Tính bà nhẩn nhịn, vén khéo, tiết kiệm nên dù hoàn cảnh chiến tranh phải bỏ xứ râ đi hai bàn tay trắng nhưng ông bà vẫn nuôi sáu người con được học hành tương đối, cuộc sống không khá giả nhưng cũng không đói khổ.
Sáu người con của ông bà đều trưởng thành, lập gia đình ra sống riêng, không người nào sống cùng ông bà. Theo ước muốn của bà lúc còn sống và ông khi còn sáng suốt. Các con ông bà quyết định giử sửa chửa căn nhà và khu vườn 1300m2 vườn để làm nơi thờ tự , giử lại mảnh đất căn nhà đầu tiên của gia đình khi vào nam lập nghiệp.